Thứ Ba, 16 tháng 7, 2019

NGUYỄN BÍNH với "TƯƠNG TƯ"


"Tương tư" là nhớ nhau, nhưng ở đây lại là nỗi nhớ đơn phương, "một mình mình nhớ một mình mình hay". Đặt tên cho bài thơ là "Tương tư" phải chăng là một điều phi lý. Không hẳn! Tình yêu vốn đầy những sự phi lý mà hợp lý như vậy. Khi yêu một người nào đó, dù là yêu đơn phương, ta vẫn luôn xem người đó đã là người yêu của mình. Mà đã là người yêu của mình thì ta có quyền nhớ và có quyền hình dung rằng họ... cũng nhớ ta (vào một vài giây phút nào đó thôi cũng được). Sự ấy làm nên say mê, làm nên hy vọng để mà tiến tới.
Tất nhiên Nguyễn Bính cũng chừng mực lắm, biết điều lắm. Trong cả bài thơ, thi nhân chỉ nói tâm tư của mình, tuyệt nhiên không nói tâm tư của họ, mà ngay cả khi nói cái tâm tư của mình, ông cũng "khéo" lắm, kín đáo lắm. Tình yêu đơn phương phải thế, mà tình yêu đơn phương của một chàng trai "chân quê" lại càng phải thế.
Xuyên suốt bài thơ là nỗi nhớ, "tư" trong "tương tư" là nhớ. Nhưng nỗi nhớ ấy được biểu hiện thành một loạt các trạng thái cảm xúc: nhớ nhung, hờn giận, trách móc, băn khoăn, hy vọng, lo âu. Thì tình yêu nào mà chả thế, kể cả yêu đơn phương ? Cái độc đáo của Nguyễn Bính không phải ở chỗ cảm xúc, mà ở cách thể hiện những cảm xúc ấy.
1. Nhớ người mình yêu, Nguyễn Bính viết:
"Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người"
Hãy quan sát hình thức câu thơ: chủ thể và đối tượng nhớ đều nằm ở đầu và cuối câu, và ở giữa là khoảng cách được nối bằng nỗi nhớ. Viết như thế quả thật cho người đọc một hình dung rõ ràng về sự xa xôi cách trở: thôn Đoài – thôn Đông; một người – một người, họ ở "hai đầu nỗi nhớ". Và ban đầu là "ngồi nhớ", sau đó là "chín nhớ mười mong", nỗi nhớ từ tĩnh tại đến cồn cào, tăng cấp theo thời gian. Tiếp theo, hãy quan sát đến cách sử dụng hình ảnh để chỉ chủ thể và đối tượng của "nhớ". Nhớ người yêu, Nguyễn Bính không nói trắng ra là "anh nhớ em", mà nói "Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông", nói "một người" nhớ "một người". Sao mà chung chung, phiếm chỉ quá vậy. Lý do đầu tiên là để đảm bảo sự kín đáo, tế nhị. Tình yêu của con người quê không... "trắng trợn" như thị thành. Họ yêu bằng ẩn dụ, nhớ bằng tượng trưng. Họ yêu cái cách nói vòng vo mà lại không trật đích, thậm chí còn trúng hồng tâm nữa là đằng khác. Điều này gợi ta nhớ đến ca dao. Chẳng phải trai gái trong ca dao khi tỏ tình cũng mượn cách nói vòng vo lấp lửng "Gặp đây Mận mới hỏi Đào / Vườn hồng đã có ai vào hay chưa" đó sao ? Thể hiện tình cảm như thế thật văn hóa, thật tế nhị mà cũng thật thấm thía, càng hiểu càng thấm và ngân nga mãi không cùng. Lý do nữa cần phải nhớ, đây là tình đơn phương, nhớ đơn phương. Kẻ yêu đơn phương khi bày tỏ tình cảm phải nói thế nào để không bị... hố, để còn chừa đường thoái lui giữ thể diện. Cho nên chỉ nói là "thôn Đoài" nhớ "thôn Đông", là "một người" nhớ "một người". Thế đấy, muốn hiểu sao thì hiểu, mà trăm phần trăm là hiểu, nhưng muốn quy kết thì... phi tang chứng.
Nỗi nhớ ấy tuy được bày tỏ kín đáo nhưng không kém phần mãnh liệt. Một người nhớ mà thành ra cả thôn Đoài và thôn Đông đều nhớ. Nỗi nhớ nhuộm thấm không gian. Nỗi nhớ ấy trở thành quy luật, và vượt lên trên quy luật. Trời còn có lúc gió lúc mưa thất thường, ấy là bệnh của trời, chứ anh thì chỉ có một bệnh duy nhất: nhớ em, bệnh thường hằng vĩnh viễn. Sau này trong một bài thơ khác Nguyễn Bính cũng viết:
"Trời còn có bữa sao quên mọc
Anh chẳng đêm nào không nhớ em"
(Đêm sao sáng)
2. Điều gì tạo nên nỗi nhớ, ấy chính là khoảng cách: khoảng cách địa lý và khoảng cách tâm tưởng, mà cái chính là khoảng cách tâm tưởng. Nhưng với một con người yêu đơn phương, lại yêu một cách chân quê, Nguyễn Bính chọn nói về khoảng cánh địa lý. Quy luật là khoảng cách càng rút ngắn thì nỗi nhớ càng bớt cồn cào. Nhưng ở đây tình hình có ngược lại, bởi khoảng cách địa lý càng ngày càng được thu hẹp mà nỗi nhớ lại rộng dài thêm. Đã "hai thôn chung lại một làng", rồi rút lại còn "cách một đầu đình", có "xa xôi mấy" nhưng tình vẫn cứ xa xôi. À thì ra là lời trách móc. Hình như càng về sau, mạch cảm xúc càng dâng đến cao trào, chàng trai càng bớt giấu giếm lòng mình. Đã có lúc chàng nói dỗi:
"Bảo rằng cách trở đò giang
Không sang là chẳng đường sang đã đành
Nhưng đây cách một đầu đình
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi
Tương tư suốt mấy đêm rồi
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho"
Giọng thơ nghe róng riết, muốn truy vấn đến cùng. Nhưng xét kĩ, nó vẫn nằm trong khuôn thước của sự tế nhị. Suốt mấy dòng thơ không có lấy một đối tượng cụ thể nào được gọi tên, và khi cần gọi, thì đó là "ai", một đại từ phiếm chỉ. Tuy nhiên, tế nhị nhưng vẫn rất chân thành. Ấy là điều độc đáo mà Nguyễn Bính đã làm được.
3. Trong tình yêu, nhất là yêu đơn phương, tuyệt vọng không đồng nghĩa với hết hy vọng, tuyệt vọng vẫn nảy mầm hy vọng, tuyệt vọng nhưng vẫn yêu và trông mong được yêu. Nguyễn Bính cũng vậy, nhưng không chỉ trông mong được yêu, ông còn trông mong tiến tới hôn nhân, tác thành duyên phận. Tình yêu chân quê là vậy, người ta không coi nhau là kẻ qua đường, là ga tạm. Tuy có lúc Nguyễn Bính đã dùng hình ảnh "bướm – hoa", nhưng tất cả chỉ để hướng đến chuyện trầu cau:
"Nhà anh có một giàn giầu
Nhà em có một hàng cau liên phòng"
Phải chăng đã có duyên phận với nhau, phải chăng điều kiện cần và đủ đã được đáp ứng, phải chăng chỉ cần một lời đáp lại là sẽ nên chồng vợ ? Bài thơ kết thúc bằng một câu hỏi đa nghĩa:
"Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?"
Hy vọng vẫn tiếp tục được thắp lên. Biết đâu cái "thôn nào" đó rồi sẽ là "thôn Đông". Nhưng cũng có thể là một nỗi chạnh lòng, một lời trách móc kiểu "Anh tìm em, em tìm ai / Để đôi khi tiếng thở dài hòa chung". Sự đa nghĩa một lần nữa cho thấy nét duyên kín đáo nhưng đầy chân thành của thi sĩ chân quê Nguyễn Bính.
Rốt cuộc, nỗi tương tư vẫn còn đó. Rốt cuộc, "ngày qua ngày lại qua ngày", những nhớ nhung, những trách móc, những hờn giận, những hy vọng cứ xoay vòng miên viễn. Đó có thể là bi kịch, nhưng cũng có thể là gia vị làm cho cuộc sống thêm chút mặn mòi, bởi khi còn biết nhớ biết yêu nghĩa là cõi lòng ta chưa nguội lạnh.
Tạ Xuân Hải

TRÀNG GIANG – MẶC CẢM BƠ VƠ


"Tràng giang" có lẽ là bài thơ tiêu biểu nhất cho nỗi sầu không gian, sầu nhân thế của thơ Huy Cận. Cảm hứng ấy đậm đặc ngay từ nhan đề, lời đề từ, thấm đẫm trong từng câu chữ cho đến kết thúc bài thơ. Nhân vật trữ tình không xuất hiện trực tiếp, nhưng hình như ở đâu cũng thấy, trong tư thế đối diện với cái lạnh lẽo của nhân thế, mênh mông của đất trời.
1. Nhan đề bài thơ rất đáng chú ý. Sự điệp lại của vần "ang" cùng với việc phối hợp hai thanh bằng (huyền và ngang) mở ra hình dung về cõi vô biên, vừa như một lời than thở thấm thía vọng khắp bãi bờ dâu bể. Lời đề từ có hai hình ảnh đều nói về không gian: "trời rộng" và "sông dài". "Trời rộng nhớ sông dài" là cái vô tận nhớ cái vô cùng, là sự hô ứng nhưng lại hình như không có lời đáp trả, bởi đã vô cùng vô tận thì đáp trả làm sao. "Bâng khuâng" là thứ cảm giác không nơi neo đậu, do vậy cũng vô định, mịt mù. Như vậy, ngay từ đầu, Huy Cận đã dìu ta bước vào cái rợn ngợp của càn khôn.
2. "Tràng giang" lấy cảm hứng từ một dòng sông cụ thể: sông Hồng, nhưng nó đã xóa nhòa cái cụ thể ấy để "nâng cấp" dòng sông trở thành một biểu tượng của cái vô cùng. Không gian trong "Tràng giang" là không gian mở ra ba chiều kích theo hướng nhìn của nhân vật trữ tình, trong đó hai chiều kích thuộc về không gian vật lý và một chiều kích của không gian tâm tưởng. Từ một chỗ ngồi xác định, cái tôi trữ tình nhìn ra xa, và nó đã thấy gì? Đó là sông dài, là sóng nước mênh mang, là "lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng"...; là một không gian trải dài không hạn định. Nhìn lên, nó thấy trời rộng, mây cao, thấy "sâu chót vót". "Sâu chót vót" là một sáng tạo độc đáo của Huy Cận. Trời "sâu" chứ không phải cao, vì chỉ có "sâu" mới nói được cái hun hút không đáy (cao là còn thấy đỉnh, do vậy có giới hạn; nhưng sâu thì không thấy đáy, do đó vô hạn), và cũng chỉ "sâu" mới làm nổi bật cảm quan vũ trụ: Huy Cận không nhìn lên trời, mà nhìn vào vũ trụ. Trái đất chẳng phải đang lơ lửng giữa không cùng hay sao, cho nên "sâu" là từ "đắt", và rất hợp lý. Hai hướng nhìn ấy đều thể hiện khao khát tìm kiếm những giới hạn. Giới hạn khiến con người có chỗ mà bám víu. Nhưng giới hạn không tìm thấy, con người mất phương hướng, mất điểm tựa. Nó hụt hẫng, bơ vơ. Nó quay trở về và nhìn vào tâm tưởng. Nhìn vào tâm tưởng cũng với mục đích tìm kiếm giới hạn, mà cụ thể là tìm kiếm chỗ dựa trong cõi nhân sinh. Chỗ dựa ấy chính là "quê", là "nhà". Có điều cần lưu ý, "quê" và "nhà" ở đây không phải là những nơi chốn xác định, gắn với quê quán, gia đình. Đã mang lấy mặc cảm bơ vơ trong vũ trụ, trong trời đất thì dầu ở quê hay ở nhà vẫn cứ lạc lõng như thường. Cái mà thi nhân tìm kiếm phải chăng là một cõi xa xăm trong tiền kiếp, khi mà con người chưa được sinh ra, chưa phải "mang nặng kiếp người", chưa phải chuốc lấy nỗi sầu nhân thế. Quả đúng như vậy, Huy Cận muốn quay trở về với cõi an lạc trước kia, trước khi đến với trần gian khổ lụy này, cho nên trong một bài thơ khác, ông đã than thở:
"Những cô độc đã thầm ghi trên trán
Lòng lạc loài ngay từ thở sơ sinh"
"Quê", "nhà" chính là nơi ấy, nơi ta chưa bị "lạc loài", nhưng nó còn vô định hơn sương khói. Cho nên con người vẫn mãi mãi lâm vào tình trạng vong bản, vong thân. Bơ vơ và bơ vơ một cách vô vọng.
Đối lập với không gian vô hạn là những sự vật nhỏ bé, được đặt trong tư thế đối lập với cái vô hạn ấy, để càng làm tăng thêm cảm giác mênh mông. Trên dòng "Tràng giang" bát ngát là những con sóng "gợn" lăn tăn; cành củi khô lạc lõng, cánh bèo lênh đênh, cồn nhỏ lơ thơ. Trên bầu trời bao la là cánh chim lẻ loi cô độc. Chúng bị ném vào cõi vô biên, trở nên yếu đuối, thụ động, mất phương hướng. Chúng chẳng phải là đồng cảnh ngộ với kiếp người bơ vơ giữa bốn phương tám hướng càn khôn hay sao? Hay là kiếp người bơ vơ đồng thanh tương ứng nên nhìn vào sự vật nào cũng thấy nó côi cút giống mình ?
3. Thực ra, sự bơ vơ trước cõi mênh mông chỉ là cái bề ngoài. Sâu xa hơn, bản chất hơn, con người thực sự bơ vơ khi đánh mất sự kết nối: kết nối với vũ trụ, kết nối với nhân sinh; hay nói cách khác, nó không tìm thấy sự hòa điệu. Sự bất hòa điệu trong bài "Tràng giang" được thể hiện qua sự mất kết nối giữa con người với cõi người; giữa con người với thiên nhiên và giữa các sự vật với nhau. Thực ra căn nguyên là sự bất hòa điệu, phi liên kết giữa con người với cõi người (đến cuối bài "Tràng giang" chúng ta thấy rõ điều ấy), nó chi phối đến hai cặp bất hòa điệu còn lại.
Huy Cận là kẻ mắc đọa. Lời nguyền huyền bí đã đẩy ông vào/về thuở sơ khai, thuở trời đất mới dựng lên. Ở đó không có dấu vết con người, hay đúng hơn chỉ có mình ông đối diện với "thiên địa chi du du". Quả thật, không gian trong "Tràng giang" vắng bặt sự sống: "không một chuyến đò ngang"; "không cầu gợi chút niềm thân mật". Do đó câu thơ "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều" phải hiểu là một lời phủ định (đâu có) hay một niềm mong mỏi (đâu rồi). Lời nguyền nêu trên chỉ là một giả định để suy tưởng, bởi tất nhiên Huy Cận vẫn sống giữa đời người, trong thời hiện đại. Vậy tại sao ông lại có cái nhìn kì lạ như vậy về không gian ? Hẳn điều Huy Cận muốn nói tới không phải là một nơi chốn không người, mà là một nơi chốn không có tình người. Hay nói đúng hơn, một nơi chốn có con người nhưng không có sự-kết-nối-người, không tìm được sự-kết-nối-người. Chàng Huy Cận đã mỏi gối chồn chân trên con đường đi tìm kiếm hơi ấm của sự hòa điệu, nhưng chàng đã nhận được những gì:
"Chàng yêu lắm nên bị người hắt hủi
Chàng yêu lâu nên thiên hạ lìa xa"
(Mai sau)
À thì ra chàng khao khát quá, mà đời thì vô tình quá, tẻ nhạt quá, "đời tẻ nhạt như tàu không đổi chuyến" vậy. Trách ai bây giờ ? Trách đời cũng có, nhưng trách chàng cũng có, bởi chàng trót mang trong mình những sợi tơ quá mỏng mảnh và huyền diệu, khó tìm được sự đồng thanh đồng khí. Chàng muốn hai là một, nhưng sự đời một vẫn cứ là hai. Có chút gì đó giống Xuân Diệu trong những lời than thở này:
"Từng bước lạnh teo, một mình lủi thủi,
Tin ngây thơ: hồn sẽ hiểu qua hồn;
Tôi đâu biết thịt xương là sông núi
Chia biệt người ra từng xứ cô đơn."
(Trình bày)
Thất vọng về sự lạc điệu giữa người với cõi người, giữa cái tôi với xã hội, con người có khao khát quay trở về với thiên nhiên, bởi từ xưa thiên nhiên vẫn là nơi an trú bình yên cho mọi giông bão hồng trần. Nhưng về với thiên nhiên mà sầu nhân thế vẫn còn đeo đẳng. Do vậy, con người không có cách nào để hòa điệu với thiên nhiên. Đọc "Tràng giang", ta sẽ thấy một sự ngăn cách đau đớn giữa cái tôi nhỏ bé và vũ trụ vô hạn. Cái tôi ấy ngồi bó gối, u sầu, bơ vơ, nhìn ra khắp chốn để tìm nơi bám víu nhưng vô vọng; cho nên nó thấy mình như cành củi lạc, cánh bèo trôi, như cánh chim mỏi mệt, bơ vơ, côi cút. Mặc cảm lạc điệu từ trong cõi lòng chảy tràn ra ngoại cảnh, khiến cho ngoại cảnh cũng nhuốm màu lạc điệu. "Tràng giang" trưng ra một bức tranh thiên nhiên mà các sự vật trong đó có sự lệch pha tuyệt đối: sông lớn mà sóng gợn, củi lạc trên dòng nước, nước rẽ song song, thuyền về mà nước lại, hai bờ sông không kết nối ngơ ngác nhìn nhau, bèo dạt vô định, cồn nhỏ rời rạc lơ thơ, nắng xuống mà trời lên, cánh chim nhỏ nhoi yếu ớt mà bầu trời bát ngát, trĩu nặng.
Tựu chung, con người đứt rễ với tha nhân, với thiên nhiên; mọi sự vật có chiều hướng ly khai, tách biệt. "Tràng giang", ấy là lời bộc bạch thấm thía của một cái tôi đã đi đến tận cùng của mặc cảm bơ vơ.
Tạ Xuân Hải

VỘI VÀNG – TIẾNG NÓI KHÁT KHAO GIAO CẢM


Bài "Vội vàng" mở đầu bằng cụm từ "Tôi muốn". Cụm từ tưởng chừng đơn giản ấy lại hàm chứa một quan niệm hết sức mới mẻ, đã làm nên cuộc cách mạng trong thi ca ở giai đoạn 32 – 45: quan niệm về cái Tôi, tức con người cá nhân trong văn học. Thơ ca Trung đại nói nhiều tới con người bổn phận. Tài năng và phẩm hạnh của một con người được đánh giá ở mức độ phù hợp tuyệt đối với khuôn khổ chung của xã hội. Vượt ra ngoài khuôn khổ ấy, anh là kẻ... phản động. Cho nên thi nhân xưa dùng thơ nói chí, dùng văn tải đạo, gò tiếng lòng vào khuôn khổ, thời này qua thời khác, nhất nhất đều như thế. Đó không phải là "Tôi nói", mà là "Ta nói", "chúng ta nói". Hệ quả là cái màu sắc độc đáo của mỗi cá nhân bị triệt tiêu. Thơ Mới, với sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phương Tây, nhận thấy rằng ngoài một số giá trị chung cần tôn trọng, con người trước hết phải được sống với những thang bậc giá trị của chính mình. Họ cần được/phải được dùng thơ ca để bày tỏ khát vọng cá nhân. Khi Xuân Diệu cất lên hai tiếng "Tôi muốn", ấy là lúc tác giả đi tìm câu trả lời cho câu hỏi bản thể luận: "Tôi là ai?" giữa cõi nhân sinh đông đúc này. Câu trả lời ấy, qua "Vội vàng", là: Tôi là một con người luôn khát khao giao cảm với cuộc đời, cuộc đời hiểu theo nghĩa trần thế nhất.
Bài "Vội vàng" được xem là một tuyên ngôn về lẽ sống của Xuân Diệu, và tính chất tuyên ngôn làm cho bài thơ có mạch logic tương đối rõ: Tôi muốn tận hưởng cuộc sống trần thế (mùa xuân tươi đẹp, tuổi trẻ say mê); nhưng mùa xuân tàn phai, tuổi trẻ qua đi, tôi không thực hiện được ước muốn ấy; do vậy tôi tiếc nuối; từ tiếc nuối, tôi đề ra cho mình cách thế sống vội vàng.
1. Cái khát vọng tận hưởng cuộc sống của Xuân Diệu được thể hiện ở bốn câu thơ đầu: ở việc nhấn mạnh hai lần cụm từ "Tôi muốn", ở hành động "tắt nắng", "buộc gió", ở mục đích "cho màu đừng nhạt", "cho hương đừng bay". Khát vọng phi lý, nhưng đẹp, cái đẹp làm nó trở nên hữu lý. Không có những khát vọng vượt quá tầm mình, con người sẽ không bao giờ vươn tới một cuộc sống ý nghĩa. Điều quan trọng không phải là có thực hiện được khát vọng hay không, mà là có dám khát vọng không. Xuân Diệu dám khát vọng, ấy chính là dấu hiệu đầu tiên cho thấy ông sống đẹp. Sống đẹp thấy cuộc đời đẹp, hay sống đẹp nên thấy cuộc đời đẹp ? Có lẽ là lý do thứ hai. Cái nhìn của một con người có can hệ đến hình sắc của cuộc đời nhiều lắm. Bằng cặp mắt "xanh non", "biếc rờn" của một tấm lòng yêu sống, trần thế hiện ra thật rạo rực xuân tình:
"Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần"
Tất cả đều ở trạng thái viên mãn nhất, xuân sắc nhất, say mê nhất. Có người nói câu thơ "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần" thật độc đáo, bởi nó thể hiện một quan niệm mới mẻ: lấy vẻ đẹp con người làm chuẩn mực cho vẻ đẹp thiên nhiên. Nhận xét như vậy đúng nhưng còn chung chung quá. Cái độc đáo thể hiện rõ nhất ở từ "ngon": trước Xuân Diệu, chưa ai nói "tháng giêng ngon", và lại càng chưa nói "ngon như một cặp môi gần". Xuân Diệu nhìn thiên nhiên bằng con mắt nhục cảm, luyến ái, đó chính là sự thể hiện tình yêu một cách trần tục nhưng không phàm tục; cụ thể, trực tiếp chứ không cả thẹn, né tránh; do đó, nó có sức tác động và ám ảnh mạnh mẽ.
2. Chỉ có người yêu cuộc sống hết mình mới ý thức được cuộc sống tươi đẹp, mới trân trọng từng giây từng phút của cuộc sống, mới luôn có cái lo âu phấp phỏng, sợ một ngày cuộc sống sẽ vuột khỏi tầm tay. Xuân Diệu không chỉ yêu hết mình, ông còn suy tư hết mình, cho nên mới có những quan niệm về thời gian hết sức kì lạ:
"Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già"
Thông thường, trong suy nghĩ của chúng ta, các khoảnh khắc "tới – qua", "non – già" vốn tách biệt, thậm chí đối lập nhau: đang tới nghĩa là chưa qua, còn non nghĩa là chưa già; nhưng Xuân Diệu lại đồng nhất chúng. Tưởng là phi lý mà hóa ra lại vô cùng hợp lý, bởi ông nhìn nó trong sự biến chuyển liên tục. Chẳng phải chúng ta sống là đang nuôi dưỡng sự chết đó sao? Ẩn sau quan niệm sâu sắc ấy là một lời cảnh tỉnh: chúng ta thường quá vui với sự đang tới, mà quên mất nỗi buồn khi nó sẽ qua. Hãy coi chừng! Hãy sống sâu sắc với từng khoảnh khắc, bởi có những thứ một khi đã đi qua thì vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Tuổi trẻ là một ví dụ đau đớn nhất:
"Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại"
Đối với Xuân Diệu, tuổi trẻ không chỉ là một khúc đoạn của cuộc đời, tuổi trẻ chính là cuộc đời. Mất tuổi trẻ là mất tất cả. Mùa xuân của đất trời trôi qua sẽ cuốn theo mùa xuân của đời người, "mỗi năm một tuổi, cái tuổi nó đuổi xuân đi", và "xuân hết nghĩa là tôi cũng mất".
3. Dù đã ý thức, đã lo âu trăn trở về sự trôi chảy phũ phàng của thời gian; dù đã sớm biết "vội vàng" khi còn "sung sướng", đã đón đầu "không chờ nắng hạ mới hoài xuân" nhưng rồi mọi thứ vẫn vuột khỏi tầm tay. Đối với một con người yêu sống như Xuân Diệu, đó quả là một nỗi đau thấm thía. Xuân Diệu đứng nhìn cuộc sống trôi qua như kẻ ham sống đứng nhìn từng dòng máu đang thoát dần khỏi đường gân thớ thịt. Đau lắm! Tiếc lắm! "Tiếc cả đất trời". Nỗi đau ấy phổ vào cái nhìn, và qua cái nhìn phổ vào vạt vật, làm cho trần thế bỗng chốc trở nên u ám:
Mùi tháng năm đã rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt
Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi
Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa"
Mặc cảm chia lìa bao phủ khắp không gian, từ những thứ vô hình đến những thứ hữu hình, từ những thứ vô tri đến những thứ hữu tri, từ những thứ đã mất đến những thứ sắp sửa mất. Bức tranh trần thế này đối lập một cách gay gắt với "bữa tiệc trần gian" ở đầu bài thơ. Bằng sự nhạy cảm của con người yêu sống và đa cảm, Xuân Diệu một lần nữa cung cấp cho thi ca Việt Nam một câu thơ độc lạ: "Mùi tháng năm đã rớm vị chia phôi" – câu thơ tiêu biểu cho thuật "tương giao cảm giác" mà ông đã tiếp thu được từ thơ Tượng trưng Pháp. Nếu ở phần trước ta gặp thời gian "ngon" (vị giác) thì ở đây thời gian được cảm nhận bằng một loạt các giác quan: khứu giác (mùi), vị giác (vị), thị giác (rớm) và cả... tâm giác (chia phôi). Do đó, thời gian không còn là thứ vô hình và khách quan nữa, trái lại nó có hình thể và nhuốm màu chủ thể. Mùi chia phôi, vị chia phôi, giọt lệ chia phôi, thời gian như đang than khóc cho chính sự chảy trôi của mình. Hãy nhìn lên chiếc đồng hồ, chẳng phải ở đó luôn luôn diễn ra cuộc tiễn biệt đau đớn giữa giây sau và giây trước, phút sau và phút trước, giờ sau và giờ trước đó sao? Đó là cuộc vĩnh biệt, và xác chết thời gian đang ngày một đầy lên. Chúng ta chẳng lẽ lại vui khi ngồi trên đống xác chết đó của thời gian và của chính cuộc đời mình?
4. "Khóc là nhục. Rên: hèn. Van: yếu đuối". Thực ra Xuân Diệu không khóc, không rên, không van vỉ. Ông nhận thức để mà hành động, và đã đến lúc hành động:
"Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng
Cho chếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi".
Quả là một "khúc ca xuống đường" với điệp khúc "tôi muốn", hàng loạt các động từ mạnh và không ngừng tăng cấp: ôm, riết, say, thâu, cắn. "Tôi muốn" ở đầu bài thơ đã trở thành "Ta muốn". Lưu ý rằng "ta" ở đây không phải là "chúng ta", mà là một cách xưng hô đầy tự tôn, ngạo nghễ. Chỉ có cái ngạo nghễ ấy mới cho mình một thế đứng cao, vòng tay mới đủ rộng để ôm cả trời đất vào lòng. Đã hết cái rụt rè bỡ ngỡ buổi đầu, đây là lúc phải mạnh mẽ và dứt khoát, làm chủ tất cả. Cái đáng yêu, đáng quý của Xuân Diệu đã thể hiện ở cách thế sống quyết liệt, vồ vập ấy; nhưng nó còn thể hiện ở thái độ chân thành rất dễ thương: sau khi đã ôm, riết, say, thâu cho chếnh choáng, đã đầy, no nê, ông lại còn muốn "cắn" nữa. Không phải ông cả thèm, cả yêu đến nỗi cuồng loạn, mà bởi vì con người luôn "thèm muốn vô biên và tuyệt đích" ấy thấy rằng: dù có cuống quýt, vồ vập bao nhiêu, cuộc sống dường như vẫn vuột khỏi tầm tay, vẫn dùng vẻ hấp dẫn của nó mà "trêu nhử". Đó là bi kịch, nhưng là bi kịch của một con người luôn khát khao giao cảm, luôn dám sống và dám khát vọng hết mình để đạt tới cái "vô biên và tuyệt đích" trong ý nghĩa của cuộc nhân sinh.
Tạ Xuân Hải