"Tương tư" là
nhớ nhau, nhưng ở đây lại là nỗi nhớ đơn phương, "một mình mình nhớ một
mình mình hay". Đặt tên cho bài thơ là "Tương tư" phải chăng là
một điều phi lý. Không hẳn! Tình yêu vốn đầy những sự phi lý mà hợp lý như vậy.
Khi yêu một người nào đó, dù là yêu đơn phương, ta vẫn luôn xem người đó đã là người yêu của mình. Mà đã là người yêu của mình thì ta có quyền nhớ và có
quyền hình dung rằng họ... cũng nhớ ta (vào một vài giây phút nào đó thôi cũng
được). Sự ấy làm nên say mê, làm nên hy vọng để mà tiến tới.
Tất nhiên Nguyễn Bính
cũng chừng mực lắm, biết điều lắm. Trong cả bài thơ, thi nhân chỉ nói tâm tư
của mình, tuyệt nhiên không nói tâm tư của họ, mà ngay cả khi nói cái tâm tư
của mình, ông cũng "khéo" lắm, kín đáo lắm. Tình yêu đơn phương phải
thế, mà tình yêu đơn phương của một chàng trai "chân quê" lại càng
phải thế.
Xuyên suốt bài thơ là nỗi
nhớ, "tư" trong "tương tư" là nhớ. Nhưng nỗi nhớ ấy được
biểu hiện thành một loạt các trạng thái cảm xúc: nhớ nhung, hờn giận, trách
móc, băn khoăn, hy vọng, lo
âu. Thì tình yêu nào mà chả thế, kể cả yêu đơn phương ? Cái độc đáo của Nguyễn
Bính không phải ở chỗ cảm xúc, mà ở cách thể hiện những cảm xúc ấy.
1. Nhớ
người mình yêu, Nguyễn Bính viết:
"Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người"
Hãy quan sát hình thức
câu thơ: chủ thể và đối tượng nhớ đều nằm ở đầu và cuối câu, và ở giữa là
khoảng cách được nối bằng nỗi nhớ. Viết như thế quả thật cho người đọc một hình
dung rõ ràng về sự xa xôi cách trở: thôn Đoài – thôn Đông; một người – một
người, họ ở "hai đầu nỗi nhớ". Và ban đầu là "ngồi nhớ",
sau đó là "chín nhớ mười mong", nỗi nhớ từ tĩnh tại đến cồn cào, tăng
cấp theo thời gian. Tiếp theo, hãy quan sát đến cách sử dụng hình ảnh để chỉ
chủ thể và đối tượng của "nhớ". Nhớ người yêu, Nguyễn Bính không nói
trắng ra là "anh nhớ em", mà nói "Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông",
nói "một người" nhớ "một người". Sao mà chung chung, phiếm
chỉ quá vậy. Lý do đầu tiên là để đảm bảo sự kín đáo, tế nhị. Tình yêu của con
người quê không... "trắng trợn" như thị thành. Họ yêu bằng ẩn dụ, nhớ
bằng tượng trưng. Họ yêu cái cách nói vòng vo mà lại không trật đích, thậm chí
còn trúng hồng tâm nữa là đằng khác. Điều này gợi ta nhớ đến ca dao. Chẳng phải
trai gái trong ca dao khi tỏ tình cũng mượn cách nói vòng vo lấp lửng "Gặp
đây Mận mới hỏi Đào / Vườn hồng đã có ai vào hay chưa" đó sao ? Thể hiện
tình cảm như thế thật văn hóa, thật tế nhị mà cũng thật thấm thía, càng hiểu
càng thấm và ngân nga mãi không cùng. Lý do nữa cần phải nhớ, đây là tình đơn
phương, nhớ đơn phương. Kẻ yêu đơn phương khi bày tỏ tình cảm phải nói thế nào
để không bị... hố, để còn chừa đường thoái lui giữ thể diện. Cho nên chỉ nói là
"thôn Đoài" nhớ "thôn Đông", là "một người" nhớ
"một người". Thế đấy, muốn hiểu sao thì hiểu, mà trăm phần trăm là
hiểu, nhưng muốn quy kết thì... phi tang chứng.
Nỗi nhớ ấy tuy được bày
tỏ kín đáo nhưng không kém phần mãnh liệt. Một người nhớ mà thành ra cả thôn
Đoài và thôn Đông đều nhớ. Nỗi nhớ nhuộm thấm không gian. Nỗi nhớ ấy trở thành
quy luật, và vượt lên trên quy luật. Trời còn có lúc gió lúc mưa thất thường,
ấy là bệnh của trời, chứ anh thì chỉ có một bệnh duy nhất: nhớ em, bệnh thường
hằng vĩnh viễn. Sau này trong một bài thơ khác Nguyễn Bính cũng viết:
"Trời còn có bữa sao quên mọc
Anh chẳng đêm nào không nhớ em"
(Đêm sao sáng)
2. Điều
gì tạo nên nỗi nhớ, ấy chính là khoảng cách: khoảng cách địa lý và khoảng cách
tâm tưởng, mà cái chính là khoảng cách tâm tưởng. Nhưng với một con người yêu
đơn phương, lại yêu một cách chân quê, Nguyễn Bính chọn nói về khoảng cánh địa
lý. Quy luật là khoảng cách càng rút ngắn thì nỗi nhớ càng bớt cồn cào. Nhưng ở
đây tình hình có ngược lại, bởi khoảng cách địa lý càng ngày càng được thu hẹp
mà nỗi nhớ lại rộng dài thêm. Đã "hai thôn chung lại một làng", rồi
rút lại còn "cách một đầu đình", có "xa xôi mấy" nhưng tình
vẫn cứ xa xôi. À thì ra là lời trách móc. Hình như càng về sau, mạch cảm xúc
càng dâng đến cao trào, chàng trai càng bớt giấu giếm lòng mình. Đã có lúc
chàng nói dỗi:
"Bảo rằng cách trở đò giang
Không sang là chẳng đường sang đã đành
Nhưng đây cách một đầu đình
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi
Tương tư suốt mấy đêm rồi
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho"
Giọng thơ nghe róng riết,
muốn truy vấn đến cùng. Nhưng xét kĩ, nó vẫn nằm trong khuôn thước của sự tế
nhị. Suốt mấy dòng thơ không có lấy một đối tượng cụ thể nào được gọi tên, và
khi cần gọi, thì đó là "ai", một đại từ phiếm chỉ. Tuy nhiên, tế nhị
nhưng vẫn rất chân thành. Ấy là điều độc đáo mà Nguyễn Bính đã làm được.
3. Trong
tình yêu, nhất là yêu đơn phương, tuyệt vọng không đồng nghĩa với hết hy vọng,
tuyệt vọng vẫn nảy mầm hy vọng, tuyệt vọng nhưng vẫn yêu và trông mong được yêu.
Nguyễn Bính cũng vậy, nhưng không chỉ trông mong được yêu, ông còn trông mong
tiến tới hôn nhân, tác thành duyên phận. Tình yêu chân quê là vậy, người ta
không coi nhau là kẻ qua đường, là ga tạm. Tuy có lúc Nguyễn Bính đã dùng hình
ảnh "bướm – hoa", nhưng tất cả chỉ để hướng đến chuyện trầu cau:
"Nhà anh có một giàn giầu
Nhà em có một hàng cau liên phòng"
Phải chăng đã có duyên
phận với nhau, phải chăng điều kiện cần và đủ đã được đáp ứng, phải chăng chỉ
cần một lời đáp lại là sẽ nên chồng vợ ? Bài thơ kết thúc bằng một câu hỏi đa nghĩa:
"Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?"
Hy vọng vẫn tiếp tục được
thắp lên. Biết đâu cái "thôn nào" đó rồi sẽ là "thôn Đông".
Nhưng cũng có thể là một nỗi chạnh lòng, một lời trách móc kiểu "Anh tìm
em, em tìm ai / Để đôi khi tiếng thở dài hòa chung". Sự đa nghĩa một lần
nữa cho thấy nét duyên kín đáo nhưng đầy chân thành của thi sĩ chân quê Nguyễn
Bính.
Rốt cuộc, nỗi tương tư
vẫn còn đó. Rốt cuộc, "ngày qua ngày lại qua ngày", những nhớ nhung,
những trách móc, những hờn giận, những hy vọng cứ xoay vòng miên viễn. Đó có
thể là bi kịch, nhưng cũng có thể là gia vị làm cho cuộc sống thêm chút mặn
mòi, bởi khi còn biết nhớ biết yêu nghĩa là cõi lòng ta chưa nguội lạnh.
Tạ Xuân Hải