Bài "Vội vàng"
mở đầu bằng cụm từ "Tôi muốn". Cụm từ tưởng chừng đơn giản ấy lại hàm
chứa một quan niệm hết sức mới mẻ, đã làm nên cuộc cách mạng trong thi ca ở giai
đoạn 32 – 45:
quan niệm về cái Tôi, tức con người cá nhân trong văn học. Thơ ca Trung đại nói
nhiều tới con người bổn phận. Tài năng và phẩm hạnh của một con người được đánh
giá ở mức độ phù hợp tuyệt đối với khuôn khổ chung của xã hội. Vượt ra ngoài khuôn
khổ ấy, anh là kẻ... phản động. Cho nên thi nhân xưa dùng thơ nói chí, dùng văn
tải đạo, gò tiếng lòng vào khuôn khổ, thời này qua thời khác, nhất nhất đều như
thế. Đó không phải là "Tôi nói", mà là "Ta nói",
"chúng ta nói". Hệ quả là cái màu sắc độc đáo của mỗi cá nhân bị
triệt tiêu. Thơ Mới, với sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phương Tây, nhận thấy
rằng ngoài một số giá trị chung cần tôn trọng, con người trước hết phải được
sống với những thang bậc giá trị của chính mình. Họ cần được/phải được dùng thơ
ca để bày tỏ khát vọng cá nhân. Khi Xuân Diệu cất lên hai tiếng "Tôi
muốn", ấy là lúc tác giả đi tìm câu trả lời cho câu hỏi bản thể luận:
"Tôi là ai?" giữa cõi nhân sinh đông đúc này. Câu trả lời ấy, qua
"Vội vàng", là: Tôi là một con người luôn khát khao giao cảm với cuộc
đời, cuộc đời hiểu theo nghĩa trần thế nhất.
Bài "Vội vàng"
được xem là một tuyên ngôn về lẽ sống của Xuân Diệu, và tính chất tuyên ngôn làm
cho bài thơ có mạch logic tương đối rõ: Tôi muốn tận hưởng cuộc sống trần thế
(mùa xuân tươi đẹp, tuổi trẻ say mê); nhưng mùa xuân tàn phai, tuổi trẻ qua đi,
tôi không thực hiện được ước muốn ấy; do vậy tôi tiếc nuối; từ tiếc nuối, tôi
đề ra cho mình cách thế sống vội vàng.
1. Cái
khát vọng tận hưởng cuộc sống của Xuân Diệu được thể hiện ở bốn câu thơ đầu: ở
việc nhấn mạnh hai lần cụm từ "Tôi muốn", ở hành động "tắt
nắng", "buộc gió", ở mục đích "cho màu đừng nhạt",
"cho hương đừng bay". Khát vọng phi lý, nhưng đẹp, cái đẹp làm nó trở
nên hữu lý. Không có những khát vọng vượt quá tầm mình, con người sẽ không bao
giờ vươn tới một cuộc sống ý nghĩa. Điều quan trọng không phải là có thực hiện
được khát vọng hay không, mà là có dám khát vọng không. Xuân Diệu dám khát
vọng, ấy chính là dấu hiệu đầu tiên cho thấy ông sống đẹp. Sống đẹp vì thấy cuộc đời đẹp, hay sống đẹp nên thấy cuộc đời đẹp ? Có lẽ là lý do
thứ hai. Cái nhìn của một con người có can hệ đến hình sắc của cuộc đời nhiều
lắm. Bằng cặp mắt "xanh non", "biếc rờn" của một tấm lòng
yêu sống, trần thế hiện ra thật rạo rực xuân tình:
"Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần"
Tất cả đều ở trạng thái
viên mãn nhất, xuân sắc nhất, say mê nhất. Có người nói câu thơ "Tháng
giêng ngon như một cặp môi gần" thật độc đáo, bởi nó thể hiện một quan
niệm mới mẻ: lấy vẻ đẹp con người làm chuẩn mực cho vẻ đẹp thiên nhiên. Nhận
xét như vậy đúng nhưng còn chung chung quá. Cái độc đáo thể hiện rõ nhất ở từ "ngon":
trước Xuân Diệu, chưa ai nói "tháng giêng ngon", và lại càng chưa nói
"ngon như một cặp môi gần". Xuân Diệu nhìn thiên nhiên bằng con mắt
nhục cảm, luyến ái, đó chính là sự thể hiện tình yêu một cách trần tục nhưng
không phàm tục; cụ thể, trực tiếp chứ không cả thẹn, né tránh; do đó, nó có sức
tác động và ám ảnh mạnh mẽ.
2. Chỉ
có người yêu cuộc sống hết mình mới ý thức được cuộc sống tươi đẹp, mới trân
trọng từng giây từng phút của cuộc sống, mới luôn có cái lo âu phấp phỏng, sợ
một ngày cuộc sống sẽ vuột khỏi tầm tay. Xuân Diệu không chỉ yêu hết mình, ông
còn suy tư hết mình, cho nên mới có những quan niệm về thời gian hết sức kì lạ:
"Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già"
Thông thường, trong suy
nghĩ của chúng ta, các khoảnh khắc "tới – qua", "non – già"
vốn tách biệt, thậm chí đối lập nhau: đang tới nghĩa là chưa qua, còn non nghĩa
là chưa già; nhưng Xuân Diệu lại đồng nhất chúng. Tưởng là phi lý mà hóa ra lại
vô cùng hợp lý, bởi ông nhìn nó trong sự biến chuyển liên tục. Chẳng phải chúng
ta sống là đang nuôi dưỡng sự chết đó sao? Ẩn sau quan niệm sâu sắc ấy là một
lời cảnh tỉnh: chúng ta thường quá vui với sự đang tới, mà quên mất nỗi buồn
khi nó sẽ qua. Hãy coi chừng! Hãy sống sâu sắc với từng khoảnh khắc, bởi có
những thứ một khi đã đi qua thì vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Tuổi trẻ là
một ví dụ đau đớn nhất:
"Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại"
Đối với Xuân Diệu, tuổi
trẻ không chỉ là một khúc đoạn của cuộc đời, tuổi trẻ chính là cuộc đời. Mất
tuổi trẻ là mất tất cả. Mùa xuân của đất trời trôi qua sẽ cuốn theo mùa xuân
của đời người, "mỗi năm một tuổi, cái tuổi nó đuổi xuân đi", và
"xuân hết nghĩa là tôi cũng mất".
3. Dù
đã ý thức, đã lo âu trăn trở về sự trôi chảy phũ phàng của thời gian; dù đã sớm
biết "vội vàng" khi còn "sung sướng", đã đón đầu
"không chờ nắng hạ mới hoài xuân" nhưng rồi mọi thứ vẫn vuột khỏi tầm
tay. Đối với một con người yêu sống như Xuân Diệu, đó quả là một nỗi đau thấm
thía. Xuân Diệu đứng nhìn cuộc sống trôi qua như kẻ ham sống đứng nhìn từng dòng
máu đang thoát dần khỏi đường gân thớ thịt. Đau lắm! Tiếc lắm! "Tiếc cả
đất trời". Nỗi đau ấy phổ vào cái nhìn, và qua cái nhìn phổ vào vạt vật,
làm cho trần thế bỗng chốc trở nên u ám:
Mùi tháng năm đã rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt
Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi
Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa"
Mặc cảm chia lìa bao phủ
khắp không gian, từ những thứ vô hình đến những thứ hữu hình, từ những thứ vô
tri đến những thứ hữu tri, từ những thứ đã mất đến những thứ sắp sửa mất. Bức
tranh trần thế này đối lập một cách gay gắt với "bữa tiệc trần gian"
ở đầu bài thơ. Bằng sự nhạy cảm của con người yêu sống và đa cảm, Xuân Diệu một
lần nữa cung cấp cho thi ca Việt Nam một câu thơ độc lạ: "Mùi tháng
năm đã rớm vị chia phôi" – câu thơ tiêu biểu cho thuật "tương giao
cảm giác" mà ông đã tiếp thu được từ thơ Tượng trưng Pháp. Nếu ở phần
trước ta gặp thời gian "ngon" (vị giác) thì ở đây thời gian được cảm
nhận bằng một loạt các giác quan: khứu giác (mùi), vị giác (vị), thị giác (rớm)
và cả... tâm giác (chia phôi). Do đó, thời gian không còn là thứ vô hình và
khách quan nữa, trái lại nó có hình thể và nhuốm màu chủ thể. Mùi chia phôi, vị
chia phôi, giọt lệ chia phôi, thời gian như đang than khóc cho chính sự chảy
trôi của mình. Hãy nhìn lên chiếc đồng hồ, chẳng phải ở đó luôn luôn diễn ra
cuộc tiễn biệt đau đớn giữa giây sau và giây trước, phút sau và phút trước, giờ
sau và giờ trước đó sao? Đó là cuộc vĩnh biệt, và xác chết thời gian đang ngày
một đầy lên. Chúng ta chẳng lẽ lại vui khi ngồi trên đống xác chết đó của thời
gian và của chính cuộc đời mình?
4. "Khóc
là nhục. Rên: hèn. Van: yếu đuối". Thực ra Xuân Diệu không khóc, không
rên, không van vỉ. Ông nhận thức để mà hành động, và đã đến lúc hành động:
"Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng
Cho chếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi".
Quả là một "khúc ca
xuống đường" với điệp khúc "tôi muốn", hàng loạt các động từ
mạnh và không ngừng tăng cấp: ôm, riết,
say, thâu, cắn. "Tôi muốn" ở đầu bài thơ đã trở thành "Ta
muốn". Lưu ý rằng "ta" ở đây không phải là "chúng ta",
mà là một cách xưng hô đầy tự tôn, ngạo nghễ. Chỉ có cái ngạo nghễ ấy mới cho
mình một thế đứng cao, vòng tay mới đủ rộng để ôm cả trời đất vào lòng. Đã hết
cái rụt rè bỡ ngỡ buổi đầu, đây là lúc phải mạnh mẽ và dứt khoát, làm chủ tất
cả. Cái đáng yêu, đáng quý của Xuân Diệu đã thể hiện ở cách thế sống quyết
liệt, vồ vập ấy; nhưng nó còn thể hiện ở thái độ chân thành rất dễ thương: sau
khi đã ôm, riết, say, thâu cho chếnh choáng, đã đầy, no nê, ông lại còn
muốn "cắn" nữa. Không phải ông cả thèm, cả yêu đến nỗi cuồng loạn, mà
bởi vì con người luôn "thèm muốn vô biên và tuyệt đích" ấy thấy rằng:
dù có cuống quýt, vồ vập bao nhiêu, cuộc sống dường như vẫn vuột khỏi tầm tay, vẫn
dùng vẻ hấp dẫn của nó mà "trêu nhử". Đó là bi kịch, nhưng là bi kịch
của một con người luôn khát khao giao cảm, luôn dám sống và dám khát vọng hết
mình để đạt tới cái "vô biên và tuyệt đích" trong ý nghĩa của cuộc
nhân sinh.
Tạ Xuân Hải
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét