Thứ Ba, 16 tháng 7, 2019

TRÀNG GIANG – MẶC CẢM BƠ VƠ


"Tràng giang" có lẽ là bài thơ tiêu biểu nhất cho nỗi sầu không gian, sầu nhân thế của thơ Huy Cận. Cảm hứng ấy đậm đặc ngay từ nhan đề, lời đề từ, thấm đẫm trong từng câu chữ cho đến kết thúc bài thơ. Nhân vật trữ tình không xuất hiện trực tiếp, nhưng hình như ở đâu cũng thấy, trong tư thế đối diện với cái lạnh lẽo của nhân thế, mênh mông của đất trời.
1. Nhan đề bài thơ rất đáng chú ý. Sự điệp lại của vần "ang" cùng với việc phối hợp hai thanh bằng (huyền và ngang) mở ra hình dung về cõi vô biên, vừa như một lời than thở thấm thía vọng khắp bãi bờ dâu bể. Lời đề từ có hai hình ảnh đều nói về không gian: "trời rộng" và "sông dài". "Trời rộng nhớ sông dài" là cái vô tận nhớ cái vô cùng, là sự hô ứng nhưng lại hình như không có lời đáp trả, bởi đã vô cùng vô tận thì đáp trả làm sao. "Bâng khuâng" là thứ cảm giác không nơi neo đậu, do vậy cũng vô định, mịt mù. Như vậy, ngay từ đầu, Huy Cận đã dìu ta bước vào cái rợn ngợp của càn khôn.
2. "Tràng giang" lấy cảm hứng từ một dòng sông cụ thể: sông Hồng, nhưng nó đã xóa nhòa cái cụ thể ấy để "nâng cấp" dòng sông trở thành một biểu tượng của cái vô cùng. Không gian trong "Tràng giang" là không gian mở ra ba chiều kích theo hướng nhìn của nhân vật trữ tình, trong đó hai chiều kích thuộc về không gian vật lý và một chiều kích của không gian tâm tưởng. Từ một chỗ ngồi xác định, cái tôi trữ tình nhìn ra xa, và nó đã thấy gì? Đó là sông dài, là sóng nước mênh mang, là "lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng"...; là một không gian trải dài không hạn định. Nhìn lên, nó thấy trời rộng, mây cao, thấy "sâu chót vót". "Sâu chót vót" là một sáng tạo độc đáo của Huy Cận. Trời "sâu" chứ không phải cao, vì chỉ có "sâu" mới nói được cái hun hút không đáy (cao là còn thấy đỉnh, do vậy có giới hạn; nhưng sâu thì không thấy đáy, do đó vô hạn), và cũng chỉ "sâu" mới làm nổi bật cảm quan vũ trụ: Huy Cận không nhìn lên trời, mà nhìn vào vũ trụ. Trái đất chẳng phải đang lơ lửng giữa không cùng hay sao, cho nên "sâu" là từ "đắt", và rất hợp lý. Hai hướng nhìn ấy đều thể hiện khao khát tìm kiếm những giới hạn. Giới hạn khiến con người có chỗ mà bám víu. Nhưng giới hạn không tìm thấy, con người mất phương hướng, mất điểm tựa. Nó hụt hẫng, bơ vơ. Nó quay trở về và nhìn vào tâm tưởng. Nhìn vào tâm tưởng cũng với mục đích tìm kiếm giới hạn, mà cụ thể là tìm kiếm chỗ dựa trong cõi nhân sinh. Chỗ dựa ấy chính là "quê", là "nhà". Có điều cần lưu ý, "quê" và "nhà" ở đây không phải là những nơi chốn xác định, gắn với quê quán, gia đình. Đã mang lấy mặc cảm bơ vơ trong vũ trụ, trong trời đất thì dầu ở quê hay ở nhà vẫn cứ lạc lõng như thường. Cái mà thi nhân tìm kiếm phải chăng là một cõi xa xăm trong tiền kiếp, khi mà con người chưa được sinh ra, chưa phải "mang nặng kiếp người", chưa phải chuốc lấy nỗi sầu nhân thế. Quả đúng như vậy, Huy Cận muốn quay trở về với cõi an lạc trước kia, trước khi đến với trần gian khổ lụy này, cho nên trong một bài thơ khác, ông đã than thở:
"Những cô độc đã thầm ghi trên trán
Lòng lạc loài ngay từ thở sơ sinh"
"Quê", "nhà" chính là nơi ấy, nơi ta chưa bị "lạc loài", nhưng nó còn vô định hơn sương khói. Cho nên con người vẫn mãi mãi lâm vào tình trạng vong bản, vong thân. Bơ vơ và bơ vơ một cách vô vọng.
Đối lập với không gian vô hạn là những sự vật nhỏ bé, được đặt trong tư thế đối lập với cái vô hạn ấy, để càng làm tăng thêm cảm giác mênh mông. Trên dòng "Tràng giang" bát ngát là những con sóng "gợn" lăn tăn; cành củi khô lạc lõng, cánh bèo lênh đênh, cồn nhỏ lơ thơ. Trên bầu trời bao la là cánh chim lẻ loi cô độc. Chúng bị ném vào cõi vô biên, trở nên yếu đuối, thụ động, mất phương hướng. Chúng chẳng phải là đồng cảnh ngộ với kiếp người bơ vơ giữa bốn phương tám hướng càn khôn hay sao? Hay là kiếp người bơ vơ đồng thanh tương ứng nên nhìn vào sự vật nào cũng thấy nó côi cút giống mình ?
3. Thực ra, sự bơ vơ trước cõi mênh mông chỉ là cái bề ngoài. Sâu xa hơn, bản chất hơn, con người thực sự bơ vơ khi đánh mất sự kết nối: kết nối với vũ trụ, kết nối với nhân sinh; hay nói cách khác, nó không tìm thấy sự hòa điệu. Sự bất hòa điệu trong bài "Tràng giang" được thể hiện qua sự mất kết nối giữa con người với cõi người; giữa con người với thiên nhiên và giữa các sự vật với nhau. Thực ra căn nguyên là sự bất hòa điệu, phi liên kết giữa con người với cõi người (đến cuối bài "Tràng giang" chúng ta thấy rõ điều ấy), nó chi phối đến hai cặp bất hòa điệu còn lại.
Huy Cận là kẻ mắc đọa. Lời nguyền huyền bí đã đẩy ông vào/về thuở sơ khai, thuở trời đất mới dựng lên. Ở đó không có dấu vết con người, hay đúng hơn chỉ có mình ông đối diện với "thiên địa chi du du". Quả thật, không gian trong "Tràng giang" vắng bặt sự sống: "không một chuyến đò ngang"; "không cầu gợi chút niềm thân mật". Do đó câu thơ "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều" phải hiểu là một lời phủ định (đâu có) hay một niềm mong mỏi (đâu rồi). Lời nguyền nêu trên chỉ là một giả định để suy tưởng, bởi tất nhiên Huy Cận vẫn sống giữa đời người, trong thời hiện đại. Vậy tại sao ông lại có cái nhìn kì lạ như vậy về không gian ? Hẳn điều Huy Cận muốn nói tới không phải là một nơi chốn không người, mà là một nơi chốn không có tình người. Hay nói đúng hơn, một nơi chốn có con người nhưng không có sự-kết-nối-người, không tìm được sự-kết-nối-người. Chàng Huy Cận đã mỏi gối chồn chân trên con đường đi tìm kiếm hơi ấm của sự hòa điệu, nhưng chàng đã nhận được những gì:
"Chàng yêu lắm nên bị người hắt hủi
Chàng yêu lâu nên thiên hạ lìa xa"
(Mai sau)
À thì ra chàng khao khát quá, mà đời thì vô tình quá, tẻ nhạt quá, "đời tẻ nhạt như tàu không đổi chuyến" vậy. Trách ai bây giờ ? Trách đời cũng có, nhưng trách chàng cũng có, bởi chàng trót mang trong mình những sợi tơ quá mỏng mảnh và huyền diệu, khó tìm được sự đồng thanh đồng khí. Chàng muốn hai là một, nhưng sự đời một vẫn cứ là hai. Có chút gì đó giống Xuân Diệu trong những lời than thở này:
"Từng bước lạnh teo, một mình lủi thủi,
Tin ngây thơ: hồn sẽ hiểu qua hồn;
Tôi đâu biết thịt xương là sông núi
Chia biệt người ra từng xứ cô đơn."
(Trình bày)
Thất vọng về sự lạc điệu giữa người với cõi người, giữa cái tôi với xã hội, con người có khao khát quay trở về với thiên nhiên, bởi từ xưa thiên nhiên vẫn là nơi an trú bình yên cho mọi giông bão hồng trần. Nhưng về với thiên nhiên mà sầu nhân thế vẫn còn đeo đẳng. Do vậy, con người không có cách nào để hòa điệu với thiên nhiên. Đọc "Tràng giang", ta sẽ thấy một sự ngăn cách đau đớn giữa cái tôi nhỏ bé và vũ trụ vô hạn. Cái tôi ấy ngồi bó gối, u sầu, bơ vơ, nhìn ra khắp chốn để tìm nơi bám víu nhưng vô vọng; cho nên nó thấy mình như cành củi lạc, cánh bèo trôi, như cánh chim mỏi mệt, bơ vơ, côi cút. Mặc cảm lạc điệu từ trong cõi lòng chảy tràn ra ngoại cảnh, khiến cho ngoại cảnh cũng nhuốm màu lạc điệu. "Tràng giang" trưng ra một bức tranh thiên nhiên mà các sự vật trong đó có sự lệch pha tuyệt đối: sông lớn mà sóng gợn, củi lạc trên dòng nước, nước rẽ song song, thuyền về mà nước lại, hai bờ sông không kết nối ngơ ngác nhìn nhau, bèo dạt vô định, cồn nhỏ rời rạc lơ thơ, nắng xuống mà trời lên, cánh chim nhỏ nhoi yếu ớt mà bầu trời bát ngát, trĩu nặng.
Tựu chung, con người đứt rễ với tha nhân, với thiên nhiên; mọi sự vật có chiều hướng ly khai, tách biệt. "Tràng giang", ấy là lời bộc bạch thấm thía của một cái tôi đã đi đến tận cùng của mặc cảm bơ vơ.
Tạ Xuân Hải

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét